CHÚ GIẢI TIN MỪNG
CHÚA NHẬT TUẦN XXXI MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM B
TIN MỪNG: Mc 12,28b-34
Noel Quesson - Chú Giải

Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi.
Đức Giêsu bị chất vấn. Người được người ta hỏi han ngoài đường. Tôi có biết hỏi Đức Giêsu để xin Người cho ý kiến về những vấn đề quan trọng trong cuộc sống của tôi không?
Đoạn Tin Mừng Chúa nhật vừa qua cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã ở lại thành Giêrikhô với người mù dễ thương, tên Bác-ti-mê. Sau đó, Đức Giêsu vào thành Giêrusalem một cách về vang (Mc 11,1-11). Hôm sau, theo Máccô kể lại Đức Giêsu vào Đền Thánh để đuổi những kẻ đã làm mất vai trò của Đền thánh là cầu nguyện "cho các quốc gia" (Mc 11,12-19). Hôm sau nữa,'' Đức Giêsu trở lại Giêrusalem và trong dụ ngôn" cây vả bị khô héo, Người đã nói "Con Người" đến tìm quả nhưng không thấy; Đền Thánh cũng như cây vả, sẽ bị tàn phá (Mc 11,20-25). Chúng ta đang chứng kiến những tuần cuối cùng của Đức Giêsu. Sự đối đầu giữa Người và chính quyền đã lên đến tột đỉnh. Theo Máccô, thì chính trong Đền thánh Giêrusalem giữa quảng đại quần chúng, trên chiếc sân rộng rãi linh thiêng làm thành một quảng trường có những hàng cột vây quanh, nơi những đám đông thường tụ họp, Đức Giêsu đã tranh luận, "bị tấn công”, "phản công". Những cuộc tranh cãi dữ dội xảy ra. Giọng nói giữa Đức Giêsu và những nhà lãnh đạo bị khích động mỗi lúc càng lên cao.
Những đề tài nóng bỏng nhất được đề cập:
“Do quyền lực mà ông thi hành những việc ông đang làm" (Mc 11,27-33).
"Chủ vườn nho sẽ làm gì khi người làm vườn nho không xứng đáng với vai trò của mình" (Mc 12,1-12).
- Có phải đóng thuế cho quân đội đang chiếm đóng hay không" (Mc 12,13-17).
- "Số phận của những người chết bên kia thế giới như thế nào?" (Mc 12,18-27).
Chính trong bối cảnh này mà một kinh sư thuộc nhóm Pharisêu, vì đã thấy giá trị câu trả lời của Đức Giêsu về sự sống lại của những người chết (nhóm Xa-đốc, những kẻ đối nghịch với Đức Giêsu, vừa nhận được một bài học đích đáng!) tiến lại gần Đức Giêsu và tiếp tục hỏi Người.
Chúng ta có khuynh hướng "đóng khung" đời sống tôn giáo của mình trong vòng "riêng tư" trong việc "thờ phụng" không? Hay như Đức Giêsu, chúng ta có chấp nhận để đời sống tôn giáo của mình soi sáng mọi vấn đề của cuộc sống, phố xá, nghề nghiệp chính trị?
Điều răn nào đứng hàng đầu?
Ham mê tha thiết của Israel là luật, bộ Thorab. Trong những "trường dạy Đức tin" gọi là Yéshivot người ta thấy trẻ con, thanh niên, người lớn và cả người già đã dành nhiều giờ để "nghiên cứu học hỏi". Kinh thánh, và những lời chú giải trong sách Talmud. Những kinh sư thời Đức Giêsu, ngày nay tự gọi là các giáo trưởng Do Thái, là những chuyên gia về môn này và người ta thường đến hỏi họ về cách giải nghĩa một điều luật, xin một lời khuyên tinh thần, một luật sống rút ra từ lời Chúa, gọi là Thorah. Vì trong những trường Yềshivot, người ta thảo luận, người ta "chia sẻ như ngày nay chúng ta thường nói vậy: Mỗi ngày Sa-bát là một ngày dài cầu nguyện, học hỏi theo nhóm, trong đó người ta cùng nhau say mê tìm hiểu một cách hiểu sâu sắc nhất những “giới răn" của Thiên Chúa, để có thể trung thành tuân giữ các giới răn đó một cách tỉ mỉ hơn. Sống trong môi trường văn hóa của dân tộc mình, Đức Giêsu cũng có niềm ham mê đó đối với Luật. Người đã thuộc lòng Luật. Người đã đọc đi đọc lại Luật cùng với những người khác, từ thuở còn nhỏ. Người đã thảo luận nhiều về Luật. Chúng ta có khao khát đọc Kinh thánh không? Trong một tuần, chúng ta đã dành bao nhiêu thời giờ để "nghiên cứu” một cách nghiêm chỉnh, và cầu nguyện với Lời Chúa? Chúng ta có thảo luận về Lời Chúa Với những người khác, đẽ soi sáng lẫn nhau không?
Câu hỏi mà vị kinh sư đặt ra, là một câu hỏi cổ điển trong trường Yéshivot. Người ta đã trích ra được 613 điều răn của Chúa từ trong Kinh thánh: 365 điều cấm đoán và 248 điều răn tích cực. Chúng ta đừng cười? Sự trung thành tuân giữ và những chi tiết nhỏ nhất, đó là một bằng chứng của tình yêu. Ai yêu mến sẽ hiểu biết. Những người Do Thái cũng đủ thông minh để nhận thức về tầm quan trọng tương đối của những lời răn khác nhau này. Họ đã tìm thấy trong Kinh thánh những yếu tố để đáp ứng. Đối với vua Đa-vít sách luật Thorah tóm lại 11 quy định chính yếu (Tv 15). Đối với ngôn sứ Isaia là 6 (Is 33,15). Và đối với Kha-ba-cúc là một (Kb 2,4) Rabbi Hillel thì tóm lại tất cả bộ luật trong một câu châm ngôn duy nhất: "Những gì người không thích, chớ làm cho đồng loại của ngươi" Rabbi Akiba hầu như cùng thời với Đức Giêsu, cũng tập trung điều cốt yếu của Luật vào tình yêu thương đồng loại.
Còn Ngài, "hỡi Rabbi Giêsu, Ngài nghĩ sao Điều răn trọng nhất là điều răn nào?
Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng hàng đầu là: nghe đây, hởi Ít-ra-en. Đức Chúa, Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất".
"Phải phụng sự Chúa trước hết". Đối với Đức Giêsu, phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa, còn tôi? Tôi dành ưu tiên cho ai? Tôi có đặt Thiên Chúa trên hết trong đời tôi không?
Phúc thay những kẻ biết lắng nghe Lời Hằng Sống!
“Hỡi Ít-ra-en hãy lắng nghe" Đó là một nguồn sống thiêng liêng của Đức Giêsu. Người sống đúng như dân tộc mình, một dân khát khao Lời Chúa, biết "lắng nghe", và để cho Thiên Chúa giáo huấn.
Điều Chúa trích dẫn trên đây là kinh "Shema" Israel (Đnl 6,4-5).
Đó là kinh cầu nguyện hàng ngày của mọi người Do Thái sùng đạo.
Khẳng định chính yếu của đức tin Do Thái là độc thân từ lâu đã trở nên di sản chung của Ít-ra-en, của các Kitô hữu, của người Hồi giáo.
Rất tiếc là những dịch giả Pháp đã không trung thành với bản văn Hy Lạp của Marcô, và với bản văn Do Thái. Maccô đã không nói: "Thiên Chúa là Chúa duy nhất". Ong nói thật đơn giản nhưng rất mạnh: "Thiên Chúa là một". Những sách kinh thánh Do Thái thì dịch: "Đấng hằng hữu là một” Sắc thái khác biệt nhau. Chữ "một" có một nghĩa đầy đủ hơn là chữ "duy nhất". Các bạn có cảm thấy sự khác biệt không? Không có gì khác hơn là Thiên Chúa! Tất cả những gì khác chỉ hiện hữu nhờ Người. Người hoàn toàn "hợp nhất". Người sở hữu chính bản thể của Người, trong khi bản thể chúng ta luôn "lưu chảy", làm tan biến chúng ta. Đấng vĩnh hằng là một? Đó là câu trả lời đầu tiên của Đức Giêsu, khi người ta hỏi Người xem điều gì là quan trọng nhất đối với Người. Qua lời nói trên miệng Người, ta thấy Luật cũ đang có một sức sống mới.
Người phải yêu mến Đức Chúa. Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí, hết sức lực Người?
Thiên Chúa thật vĩ đại! Không phải bỗng nhiên mà chúng ta lại nghĩ đến việc kính yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa trong triết học và trong các tôn giáo khác, đòi hỏi thái độ tôn thờ, kính sợ Thánh Thiêng, vâng phục nhiều hơn. Còn đối với Israel cũng như đối với Chúa Giêsu, điều mà Thiên Chúa chờ đợi ở chúng ta, đó là tình yêu. Đặc điểm của Thánh kinh, đó là làm cho con người trở nên kẻ chung phần yêu thương trong giao ước tình yêu. Chính Thiên Chúa đã cho con người khả năng đó bằng cách tạo con người. "Giống như Thiên Chúa là tình yêu “(1 Ga 4,8).
Tôi có yêu Thiên Chúa không? Không nên vội trả lời là có Chúng ta hãy khiêm tốn khi xét đoán kẻ khác. Bạn làm gì cho “Đấng mà bạn yêu mến", nếu không phải là yêu mến Người? Có thật là bạn thương yêu Thiên Chúa "hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức" không? Sự lặp đi lặp lại trên đây rõ ràng là muốn diễn tả trọn về cường độ tình yêu đòi phải huy động và đầu tư tất cả khả năng và sinh lợi của chúng ta.
Lạy Chúa, xin cho tình yêu Chúa thiêu đốt con toàn diện từ đầu đến chân, từ tinh thần đến thân xác, từ sáng đến tối, từ lúc trẻ đến lúc già, từ đời sống thầm kín nhất của con đến những trách vụ tập thể bên ngoài.
Điều răn thứ hai là...
Vâng, ở đây chúng ta biết rõ Đức Giêsu hơn, kinh sư chỉ hỏi có một điều răn. Không còn đợi người này hỏi thêm. Đức Giêsu, theo thói quen của Người, đã đi xa hơn. Chúng ta chớ quên những gì vừa nghe Người nói. Điều người sắp nói đây cũng rất quan trọng, những đứng ở vị trí thứ nhì: Thiên Chúa phải là trước hết.
Ngươi phải thương yêu người thân cận như chính mình.
Cần phải phân biệt rõ hai điều răn này. Người ta thường có khuynh hướng hợp nhất hai điều răn này làm một, như thế "yêu Thiên Chúa" là đủ, hay "thương yêu anh em" cũng đủ. Điều răn thứ hai không thể thay' cho điều răn thứ nhất được. Nếu, ta tục hóa điều răn thứ nhất, thì chúng ta nhạo báng Đức Giêsu, biến Chúa thành một nhà giảng thuyết xã hội, một luân lý gia về tình huynh đệ. Đã có rất nhiều vĩ nhân nói về vấn đề này rồi!
Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.
Đây là một tư tưởng rất tinh tế. Chúng ta hãy để ý chữ "điều răn" trước dùng ở số ít, như là chỉ có một? Nhưng chữ sau ở số nhiều, vì có hai điều và quan trọng như nhau.
Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: Thưa Thầy, phải lắm, Thầy nói rất đúng, Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ta không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình, thì hơn là dâng mọi lễ vật toàn thiêu và hy lễ. Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu.
“Nước Thiên Chúa" đã được chuẩn bị từ lâu qua nhiều thế kỷ trong lịch sử, trong nền văn hóa và trong sinh hoạt đạo đức của dân ít-ra-en, giờ đây đã đến, đó là chính Đức Giêsu.
Người kinh sư Do Thái này sẽ thực hiện một bước cuối cùng chăng. "Trong vài ngày nữa, Đức Giêsu chỉ cần thêm hai chữ "như Ta" để cho các điều răn yêu thương có tầm cỡ vương quốc cũ và mới: "Hãy thương yêu như Ta đã yêu thương (Ga. 15,12). Trong lòng Đức Giêsu, luôn chứa chan tình yêu: tình yêu thứ hai là do tình yêu thứ nhất mà ra!
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
"Đó là giới răn thứ nhất, còn giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất..."
BÀI TIN MỪNG: Mc 12, 28b-34
1. Ý CHÍNH:
Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người Luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã xác nhận tình yêu là căn bản cho mọi cuộc sống tôn giáo. Vì thế yêu mến Chúa và yêu người là giới răn trọng nhất.
2. SUY NIỆM:
1/ "Có người trong nhóm Luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu":
Nơi người Do thái, bè phái Xa đốc và Biệt phái tiêu biểu cho hai luồng tư tưởng và cách sống đối nghịch nhau (Cv 23, 8). ở đây có một Luật sĩ trong nhóm Biệt phái đã theo dõi cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và bè Xa đốc về vấn đề kẻ chết sống lại (Mc 12, 18 - 27) thấy Chúa Giêsu làm câm họng bè Xa đốc (Vì họ không tin có sự sống lại, ngược với niềm tin của Biệt phái) nên ông này cảm phục giáo thuyết của Người rao giảng và tiến đến hỏi Người.
2/ "Trong các giới răn điều nào trọng nhất":
Giới răn ở đây chỉ toàn thể các giới răn trong Cựu ước.
Nguyên luật Do thái có 613 điều luật, chia ra 248 điều tích cực và 365 điều tiêu cực. Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra nhiều hạng: kinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới, nhưng các người Biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới luật nào trọng nhất. Vì thế người Luật sĩ mới đến để dò xem Chúa cho biết điều luật nào là trọng nhất.
3/ "Giới răn trọng nhất chính là":
+ "Hỡi Israel, hãy nghe đây": kiểu nói này diễn tả việc Chúa Giêsu trả lời không riêng gì cho người Luật sĩ đến hỏi Chúa, nhưng còn cho toàn thể dân Do thái và hết mọi người nữa. Chúa Giêsu đã trích dẫn Thánh Kinh là điều các luật sĩ rất thông thạo và do đó họ dễ chấp nhận để trả lời.
+ " Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất": Chúa Giêsu trưng ngay điều luật thứ nhất trong thập giới của Thiên Chúa đã ban truyền cho Môisen và được ghi lại trong sách thứ luật (Tl 6, 5). Chúa muốn xác định lại về "Độc nhất tính" của Thiên Chúa để nói lên lý do và tính cách quan trọng của luật trọng nhất.
+ "Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi":
* Người Do thái hiểu tiếng "lòng" và "trí" là trí khôn, còn tiếng "Hồn" họ hiểu về các tài năng cảm giác, còn tiếng "hết sức" có ý dậy phải dùng cả đến hành động, để phụng sự Thiên Chúa.
Kiểu nói "Hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và hết sức" chỉ toàn diện con người: có ý nói con người phải quy hướng tất cả cuộc sống của mình về Thiên Chúa, để phụng sự Người vì Người là Thiên Chúa độc nhất.
4/ " Còn giới răn thứ hai: ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi ":
Còn giới răn thứ hai: yêu mến tha nhân, Chúa Giêsu đã chưng dẫn trong sách (Lv 19, 18 - 34).
* Tha nhân: trong Cựu ước chỉ có nghĩa là người gần gũi với người Do thái về huyết thống và chủng tộc. " Nhưng tha nhân " Chúa Giêsu dùng ở đây có ý hiểu về hết mọi người, không phân biệt tôn giáo (Lc 10, 35) chủng tộc (Mt 8, 5) người nghĩa thiết hay kẻ thù (Mt 5, 44).
* Như chính mình ngươi: không chỉ có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải đối xử với kẻ khác "Cùng một tình yêu" như Người đã sử với người. Chứng tỏ rằng yêu mến tha nhân là muốn hội nhập tha nhân vào con người của mình đến mức cả hai người chỉ còn là một đối tượng tình yêu duy nhất và một tâm hồn duy nhất (Cv 4, 32). Đó là một nét độc đáo của tình yêu Kitô giáo, thứ tình yêu đạp đổ mọi hàng rào ngăn cách chủng tộc, màu da, vượt lên trên óc phân biệt Quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi hiềm khích hay những thành kiến cá nhân hoặc cổ truyền.
5/ " Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó ":
Tất cả các giới răn trong Cựu ước được tóm kết vào hai giới răn đó. Chứng tỏ khi trả lời, Chúa Giêsu chưa đưa thêm điều gì mới. Nhưng sau này Chúa đã ban thêm một điều răn mới là " Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu mến các con " (Ga 13, 34).
* Cần lưu ý rằng người Do thái đã biết hai giới luật mến Chúa và yêu người. Nhưng hai giới luật này nằm cách xa nhau trong các sách Cựu ước (Đnl 6, 5 và Lv 19, 18 - 34) và đã không được nổi bật lên. Nay Chúa Giêsu liên kết hai giới luật đó lại và đặt chúng lên một vị trí quan trọng, là vị trí gồm tóm tất cả giới luật, Chúa Giêsu đã vừa trả lời đâu là giới răn trọng nhất, đồng thời Người cũng trả lời rằng các giới luật khác đều chứa đựng trong hai giới luật đó.
6/ "Thưa Thầy, đúng lắm, Thầy dạy phải lẽ...":
Diễn tả tâm tình thiện cảm và xác tín của người Luật sĩ đối với tuyên phán của Chúa Giêsu về giới răn trọng nhất.
" Hơn mọi lễ vật toàn thiêu là lễ vật hy sinh ":
Việc mến Chúa yêu người có giá trị làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn những của lễ hiến dâng có tính cách lễ nghi và vật chất.
7/ "Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan":
Qua ý kiến khôn ngoan trên đây, Chúa Giêsu đã nhận thấy người Luật sĩ đã tiếp đón giáo huấn của Người với thiện chí và tế nhị, nên Chúa đã khen ông.
+ Biết và thực hành hai điều quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người thì sẽ được vào Nước Trời. Người Luật sĩ đã nhận ra và hiểu hai giới luật này thì được kể là "không còn xa" nhưng còn phải đem ra thực hành nữa, thì mới đủ điều kiện để vào nước Thiên Chúa (Lc 10, 28).
III. ÁP DỤNG:
A/ Áp dụng theo Tin Mừng:
Qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu muốn xác định lại nét độc đáo của đạo Công giáo chúng ta là đạo bác ái: Mến Chúa và yêu người. Là người Kitô hữu chúng ta yêu mến Chúa thì cũng phải thương yêu tha nhân. Nếu có ai nói rằng mình yêu Chúa mà lại không yêu tha nhân thì người đó là công giáo giả hiệu.
B/ Áp dụng thực hành:
1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:
a/ Xem việc Người làm:
+ Chúa Giêsu đã cảm hóa được người Luật sĩ với thái độ dịu hiền và khôn ngoan của một người hướng dẫn đường lành, dù là người có tội, khô khan, hay người lành mà muốn thanh tẩy hay thăng tiến đời sống, chúng ta hãy mau mắn chạy đến với Chúa trong những giờ cầu nguyện hoặc đến với Giáo Hội để nghe giáo huấn và chỉ dẫn. Noi gương Chúa, chúng ta cần có thái độ dịu dàng và khôn ngoan để cảm hoá tha nhân, dù tha nhân đó là ai đi nữa: thân hay thù nghịch với mình.
+ Chúa Giêsu đã khích lệ người Luật sĩ khi nhận thấy người này có ý kiến khôn ngoan, Chúa thường tăng ơn giúp sức khi ta biết sử dụng ơn Chúa hiệu quả cho phần rỗi, vì ai có, Chúa lại cho thêm. Chúng ta đừng quên khích lệ bằng cách này hay cách khác khi thấy tha nhân có điều hay điều tốt để thăng tiến họ.
b/ Nghe lời Chúa nói:
+ Chúa Giêsu trưng dẫn điều luật thứ nhất trong Thập giới về độc nhất tính của Thiên Chúa để đòi hỏi chúng ta chỉ được thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi. Vì thế khi chúng ta tin dị đoan, xem bói, gieo quẻ, rút xăm hoặc tin tưởng vào quyền lực nào bên ngoài Chúa là chúng ta lỗi điều răn thứ nhất về tội thờ phượng Thiên Chúa.
+ Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn và hết sức ngươi, Chúa đòi hỏi chúng ta phải yêu mến Chúa với toàn diện con người, nghĩa là phải biết dùng tất cả cuộc sống mình quy hướng về Chúa để phụng sự Người trong việc làm vinh danh Chúa và mưu ích phần rỗi cho mọi người.
+ Hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi. Chúng ta thực hành điều luật này bằng cách:
* Mười điều phải tránh:
- Không nói xấu.
- Không nghĩ sự trái cho ai.
- Không gây xích mích với ai và chia rẽ ai.
- Không xâm phạm quyền lợi của ai.
- Không muốn sự dữ cho ai.
- Không mắng nhiếc sỉ nhục ai.
- Không hờn giận ai.
- Không để lòng thù oán ai.
- Không ghen ghét ai.
- Không tranh dành quá quyền lợi của mình.
* Mười điều nên làm:
- Nói tốt cho tha nhân.
- Nghĩ điều tốt về tha nhân.
- Ước muốn sự lành cho tha nhân.
- Vui vẻ nhã nhặn với mọi người trong ngôn ngữ, cử chỉ và diện mạo.
- Cố gắng làm vui lòng tha nhân trong những điều hợp lệ.
- Tôn trọng quyền lợi của tha nhân.
- Sẵn sàng hy sinh một phần hay tất cả quyền lợi của mình cho tha nhân.
- Giúp đờ tha nhân phần hồn phần xác như trong kinh " Thương người có 14 mối ".
- Cố gắng duy trì tình huynh đệ và hợp nhất với tha nhân.
- Phục vụ tha nhân hơn là đòi tha nhân phục vụ mình.
* Năm điều thương kẻ thù:
- Tha thứ cho kẻ thù.
- Làm hoà với kẻ thù.
- Nguyện cầu cho kẻ thù.
- Làm ơn cho kẻ thù.
- Chúc lành cho kẻ thù.
2/ Nhìn vào người Luật sĩ:
a/ Cảm phục giáo huấn của Chúa Giêsu qua việc chứng kiến cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và bè Sa đốc, người Luật sĩ đã đến hỏi Chúa Giêsu để học thêm về điều mà mình đang thắc mắc. Chúng ta có rất nhiều khúc mắc trong cuộc sống, nếu chúng ta đã cảm phục Chúa vì niềm tin tưởng, cậy trông và mến Chúa thực tình thì chúng ta không còn e ngại hay do dự đến học hỏi với Chúa qua những giờ cầu nguyện, suy niệm hoặc nghe sự hướng dẫn của Giáo Hội là đại diện hữu hình của Chúa để được hướng dẫn và giải đáp cho ta.
b/ Người Luật sĩ có thiện chí đón nhận giáo huấn của Chúa và Chúa đã khen ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu. Chúng ta được diễm phúc đón nhận Chúa qua đức tin, bây giờ chỉ cần thực hành theo điều mình tin là sẽ đón nhận được Nước Trời.
c/ Đặt mình vào vai trò của người Luật sĩ, chúng ta sẽ được soi sáng để nhận biết tình yêu là sức mạnh của tâm hồn. Nếu chúng ta có tinh thần yêu mến tha nhân thực tình, thì tình yêu đó sẽ hướng dẫn chúng ta sử thế với tha nhân trong khoan dung nhân hậu không ghen tương, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không nóng giận, nhưng hết lòng tha thứ, hết lòng kính tin, hết lòng trông cậy và hết lòng kiên nhẫn. (Cr 13, 2 - 7).